Phòng Thông tin thị trường lao động
Thị trường
lao động Việt Nam nói chung và tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh
đang trong xu hướng chuyển dịch mang tính bước ngoặt của cấu trúc kinh tế – xã
hội. Sự dịch chuyển từ mô hình kinh tế thâm dụng lao động sang nền kinh tế dựa
trên tay nghề, kỹ năng chuyên sâu và ứng dụng công nghệ diễn ra song song với tốc
độ già hóa dân số thuộc hàng nhanh chóng trên thế giới. Trong bối cảnh đó, nhóm
lao động trung niên trong độ tuổi từ 45 đến 60 tuổi đang đứng trước những thử
thách và cơ hội rất lớn. Một mặt, họ là tài sản quý giá của thị trường; mặt
khác, họ lại là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước làn sóng tái cấu trúc
doanh nghiệp và áp lực chuyển đổi số, đối mặt trực diện với nguy cơ rơi vào
"bẫy mất việc làm". Việc phân tích những tác động đa chiều của thị
trường lao động và đề xuất giải pháp chiến lược sẽ góp phần tránh
lãng phí nguồn lực xã hội và hỗ trợ người lao động tránh "bẫy mất việc
làm".
I. THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐẾN NHÓM 45 – 60 TUỔI
Trung
tâm Dịch vụ việc làm Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thống kê nhóm lao động
trung niên hưởng trợ cấp thất nghiệp (từ 45 - 60 tuổi) trong giai đoạn từ 2021
-2025 cho thấy:
Nhóm lao động này tăng mạnh từ năm 2021 đến năm 2023 và đạt đỉnh điểm ở năm 2023. Ở thời điểm này thị trường lao động chịu ảnh hưởng bởi tổng cầu trên thế giới suy giảm, lĩnh vực bất động sản “đóng băng”. Các ngành công nghiệp thâm dụng lao động chịu tác động nặng nề như dệt may, da giày, điện tử và chế biến gỗ khiến doanh nghiệp bị thiếu hụt đơn hàng, nhiều lao động bị cắt giảm giờ làm, nghỉ không lương hoặc mất việc làm. Vì vậy, số lao động ở độ tuổi trung niên hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) có sự gia tăng đáng kể (hơn 48.000 người trong năm 2023, tỷ lệ nữ chiếm hơn 51%) và giảm dần vào năm 2024 và 2025. Qua đó cho thấy, khi thị trường xảy ra biến động do tác động của sự suy thoái kinh tế thì nhóm lao động trung niên chịu nhiều tổn thương và sẽ dễ rơi vào “bẫy thất nghiệp” khó quay lại thị trường lao động hơn nhóm lao động trẻ tuổi.
Biểu đồ biến động lao động hưởng TCTN có độ tuổi từ 45 – 60 trong giai đoạn từ năm 2021 – 2025
Tỷ lệ lao động nữ hưởng TCTN trong nhóm tuổi từ 45 – 60 có xu hướng giảm đều qua các năm (từ 52,94% năm 2021 xuống còn 50,20% năm 2025) và tỷ lệ này đã tiệm cận mức cân bằng với nam trong năm 2025. Sự giảm dần của chỉ số này phản ánh khoảng cách về nguy cơ thất nghiệp giữa nam và nữ ở độ tuổi trung niên đang dần thu hẹp. Hiện trạng này phản ánh sự chuyển dịch về mức độ gắn bó của lao động nữ sau những biến động mạnh về việc làm do tác động của nền kinh tế. Họ cố gắng duy trì công việc sau khi doanh nghiệp có sự phục hồi và phát triển, một phần do áp lực về tài chính nếu mất việc và một phần liên quan đến nỗi lo rơi vào “bẫy mất việc làm”.
Biểu đồ tỷ lệ lao động nữ hưởng TCTN có độ tuổi từ 45 – 60 trong giai đoạn từ năm 2021 – 2025
Song song đó, thị trường lao động hiện nay và trong thời
gian tới đang trải qua những bước chuyển dịch mạnh mẽ dưới tác động của chuyển đổi số, tự động hóa, cấu trúc lại
doanh nghiệp và xu hướng già hóa
dân số. Những biến động này tác động trực tiếp và rõ nét đến nhóm lao động
trong độ tuổi từ 45 - 60 tuổi
theo cả chiều hướng thách thức lẫn những cơ hội mới:
- Tạo ra khoảng
cách lớn giữa nhóm lao động trung niên và nhóm lao động trẻ, nhất là về kinh
nghiệm, sự linh hoạt và khả năng vận dụng các kỹ năng mềm, kỹ năng số.
- Sự dịch chuyển sang nền kinh tế số đòi hỏi nhiều vị trí
việc làm phải tương tác với công nghệ, phần mềm quản lý hoặc quy trình tự động
hóa. Điều này tạo ra rào cản lớn cho nhóm lao động trung niên nếu chưa cập nhật
kỹ năng số.
- Thị trường
đang ưu tiên nguồn nhân lực có kỹ năng chuyên môn linh hoạt, đa nhiệm (kiêm nhiệm
nhiều vị trí), đa năng (vận dụng nhiều kỹ năng). Lao động trung niên nếu không
chủ động nâng cao kiến thức, cập nhật kỹ năng rất dễ bị “bỏ lại phía sau”. Khi
mất việc, sẽ khó tìm công việc có mức thu nhập tương đương mức cũ, phải
thỏa hiệp với các công việc phi chính thức, thu nhập thấp (dễ rơi vào “bẫy mất
việc làm”)
- Tốc độ già hóa dân số nhanh chóng sẽ làm gia tăng nhu cầu
về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dưỡng lão, tư vấn tài chính dưỡng già và du lịch
nghỉ dưỡng chậm. Đây là "cơ hội" mà lao động trung niên có lợi thế
nhiều hơn về sự thấu cảm, tâm lý vững vàng và uy tín cao.
- Lợi thế về giá trị và sự ổn định: Nhóm lao động này có
thâm niên về tính kỷ luật lao động và đạo đức nghề cũng như nhu cầu gắn bó lâu
dài. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực dịch vụ đang tìm kiếm những giá trị
này.
- Sự ra đời và hoàn thiện của các chính sách an sinh, các
đề án hỗ trợ người cao tuổi/lao động lớn tuổi tham gia chuyển đổi số, khởi nghiệp
và tạo việc làm đang từng bước tạo ra lưới đỡ, khuyến khích các trung tâm dịch
vụ việc làm tăng cường kết nối cung - cầu riêng cho nhóm này. Một số quy định
pháp luật hiện hành đã khẳng định và nâng cao vài trò của người cao tuổi[1] như: Luật Người cao tuổi số
39/2009/QH12: Định hướng lồng ghép chính sách NCT vào phát triển kinh tế - xã hội;
Quyết định số 383/QĐ-TTg: Phê duyệt
Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045;
Luật Dân số số 113/2025/QH15: dành
riêng Chương IV về thích ứng già hóa dân số; Quyết định số 1116/QĐ-TTg: củng cố
cách tiếp cận toàn diện hơn đối với chăm sóc người cao tuổi, vượt ra ngoài phạm
vi chăm sóc y tế . Xây dựng, triển khai các mô hình: Cơ sở chăm sóc người cao
tuổi ban ngày; xã, phường, đặc khu thân thiện với người cao tuổi; cơ sở chăm
sóc người cao tuổi theo hình thức phù hợp, tiến tới xã hội hóa thực hiện nhiệm
vụ chăm sóc người cao tuổi, …
II. RỦI RO LÃNG PHÍ NGUỒN
LỰC TRONG BỐI CẢNH GIÀ HÓA DÂN SỐ
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân
số với tốc độ thuộc hàng nhanh trên thế giới, đặt ra bài toán lớn về áp lực an
sinh xã hội và thiếu hụt lực lượng lao động có “độ chín”. Việc một bộ phận lớn
lao động trung niên sớm rời khỏi thị trường lao động chính thức không chỉ gia
tăng rủi ro cho hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và quỹ an sinh xã hội, mà còn có
thể tạo ra sự đứt gãy trong việc truyền đạt kinh nghiệm, tri thức tích lũy sang
thế hệ trẻ.
Đối với người lao động và gia đình: Mất nguồn thu nhập chính ở giai đoạn cận hưu – thời điểm nhạy cảm nhất
về chi phí y tế, nuôi con ăn học và chuẩn bị tài chính về hưu. Gánh nặng này dễ
dẫn đến khủng hoảng đời sống gia đình.
Đối với xã hội và nền kinh tế: Lãng phí một nguồn lực chất xám và kinh nghiệm phong phú ("vàng trắng"
của doanh nghiệp). Đồng thời, gia tăng áp lực lên hệ thống an sinh xã hội, bảo
hiểm thất nghiệp và các chính sách hỗ trợ việc làm của nhà nước.
III. VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG TRUNG NIÊN TRONG NỀN
TẢNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Nhóm lao
động từ 45 - 60 tuổi đóng vai trò khá quan trọng trong cấu trúc nguồn
nhân lực, sở hữu những đặc thù riêng biệt về kinh nghiệm, kỹ năng mềm và định
hướng nghề nghiệp dưới đây.
1. Kinh nghiệm và độ chín chắn: Có
thời gian tích lũy lâu năm về kinh nghiệm chuyên môn, có khả năng xử lý tình huống
phát sinh và khủng hoảng tốt nhờ vốn sống và thực tế công việc phong phú.
2. Tính ổn định cao: Mức
độ gắn bó với tổ chức, nơi làm việc thường cao hơn, ít có xu hướng nhảy việc so
với nhóm lao động trẻ, giúp doanh nghiệp duy trì sự ổn định nhân sự cốt lõi.
3. Đạo đức nghề nghiệp: Ý
thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và tác phong chuẩn mực thường
được đánh giá rất cao.
4. Kỹ năng mềm: Khả năng giao tiếp,
thấu hiểu tâm lý khách hàng, đàm phán và quản trị quan hệ xã hội dày dặn.
IV. HƯỚNG GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TRỌNG TÂM
1. Về phía Nhà nước
Cần hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ lao
động lớn tuổi, trong đó chú trọng các chính sách bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ chuyển đổi nghề và chăm sóc
sức khỏe nghề nghiệp để đảm bảo sinh kế bền vững; nghiên
cứu xây dựng các đề án cấp quốc gia về
Đào tạo lại và Nâng cao kỹ năng thiết thực dành riêng cho nhóm
trên 40 tuổi (đặc biệt là kỹ năng số cơ
bản và chuyển đổi nghề); phát huy vai trò chủ lực của hệ thống Trung tâm Dịch
vụ việc làm trong việc định
hướng nghề nghiệp, kết nối doanh nghiệp cần sự ổn định nhân sự với người lao động
trung niên, xây dựng sàn giao dịch việc làm dành riêng
cho nhóm lao động trung niên.
Có cơ chế khuyến khích khởi nghiệp hoặc mở rộng mô hình
việc làm bán thời gian, làm việc từ xa hoặc các vị trí cố vấn, chuyên gia kỹ
thuật để phát huy tối đa chất xám của nhóm lao động này.
2. Về phía Doanh nghiệp
Từng bước thay đổi tư duy quản trị nhân sự, nghiên cứu
xây dựng môi trường làm việc đa thế hệ, tận dụng kinh nghiệm của lao động trung
niên vào các vị trí cố vấn, kiểm soát chất lượng, quản lý vận hành hoặc dịch vụ
khách hàng cao cấp. Chủ động tổ chức các chương trình đào tạo nội bộ ngắn hạn
giúp nhân sự lớn tuổi thích ứng được với công nghệ mới, chú trọng vào kỹ năng số
cơ bản, thương mại điện tử hoặc các kỹ năng chuyên môn phù hợp với thể trạng và
kinh nghiệm sẵn có.
3. Về phía Bản thân người lao động:
Chủ động tham gia các chương trình tư vấn
hướng nghiệp phù hợp, chuyển dịch tư duy sang mô hình "Học tập suốt
đời", chủ động tiếp cận công nghệ số ở mức tối thiểu phục vụ công
việc.
Tự nâng cấp tay nghề, kết hợp chặt chẽ giữa
kinh nghiệm thực tế sẵn có với các tiêu chuẩn chuyên môn hiện đại để gia tăng
sức cạnh tranh.
4. Một số nhóm ngành nghề và lĩnh vực trọng điểm có khả năng dung nạp tốt,
thời gian đào tạo ngắn và tính ổn định cao dành cho nhóm lao động trung niên.
Không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nhưng đòi hỏi kỹ năng xử
lý tình huống khéo léo, sự điềm đạm, biết lắng nghe, thấu hiểu và độ tin cậy –
những phẩm chất mà lao động trẻ thường thiếu. Các nghề nghiệp nổi bật: Chăm sóc
khách hàng VIP, tư vấn giải pháp doanh nghiệp, tư vấn bảo hiểm, tài chính cá
nhân, … công việc này không giới hạn độ tuổi, thu nhập dựa trên năng lực và sự
tận tâm.
- Nhóm Vận hành, Hậu
cần và Dịch vụ đô thị
Các công việc thực tế, gắn liền với tổ chức, quản lý
không gian và quy trình rõ ràng, ít bị thay thế bởi AI hay phần mềm văn phòng:
giám sát an ninh, vệ sinh, bảo trì, hoặc quản lý chung cư, tòa nhà văn phòng,
khu dân cư, kiểm kê kho, kiểm soát quy trình xuất nhập hàng, điều phối giao nhận
tại các doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ. Kinh nghiệm quản lý con người, sự cẩn
trọng và tính kỷ luật cao giúp họ làm tốt các vị trí này.
- Nhóm Giáo dục,
Đào tạo nghề và Hướng nghiệp xã hội
Lĩnh vực này ưu tiên chuyển hóa kinh nghiệm nghề nghiệp tích lũy hàng chục năm thành giá trị
truyền đạt cho thế hệ sau. Các vị trí trợ giảng, quản lý học vụ tại các cơ sở
giáo dục, trung tâm dạy nghề, trường ngoại ngữ/kỹ năng sống hoặc nhân sự hỗ trợ
cộng đồng, công tác xã hội phục vụ công tác tư vấn, kết nối hoặc hỗ trợ cộng đồng.
Xu hướng già hóa dân số đang tạo ra nhu cầu lớn về các dịch
vụ chăm sóc người cao tuổi. Lao động trung niên phục vụ nhóm này có sự đồng cảm
sâu sắc nhất. Tham gia vào công tác vận hành, quản lý dinh dưỡng, tổ chức đời sống
tinh thần tại các viện dưỡng lão, trung tâm phục hồi chức năng. Hoặc tham gia
khóa đào tạo ngắn hạn về điều dưỡng cơ bản, sơ cấp cứu hoặc chăm sóc người bệnh
tại nhà sẽ có lợi thế hơn với các vị trí: chăm sóc sức khỏe tại nhà, trợ lý y tế
cơ bản…
- Nhóm Du lịch,
Khách sạn và Dịch vụ văn hóa - trải nghiệm
Ngành du
lịch đang dịch chuyển sang xu hướng du lịch gắn với sự trải nghiệm sâu sắc, sự
kết nối chân thực với văn hóa bản địa, thiên nhiên và con người tại điểm đến;
du lịch văn hóa và nghỉ dưỡng cao cấp, nơi du khách tìm kiếm sự trải nghiệm và
câu chuyện thực tế. Sự từng trải giúp họ phục vụ tốt hơn nhóm khách du lịch
trung niên hoặc khách quốc tế thích tìm hiểu sâu về lịch sử, văn hóa địa phương
với vai trò Hướng dẫn viên du lịch nội
địa, Chuyên viên trải nghiệm văn hóa, Quản lý vận hành homestay, khu nghỉ dưỡng
sinh thái,
V. KẾT LUẬN
Từ
thực trạng và tác động của thị trường lao động đến nhóm lao động 45 – 60 tuổi
như phân tích trên cho thấy giá trị của nhóm lao động này là
"vốn quý" nếu thị trường biết cách khơi thông và khai thác đúng
hướng.
Đầu tư vào việc giữ chân, đào tạo lại và tạo
sinh kế bền vững cho lao động trung niên chính là chìa khóa giải quyết bài toán
thiếu hụt lực
lượng lao động chất lượng, đồng thời đảm bảo an sinh xã hội bền vững trong kỷ
nguyên già hóa dân số.
Để hỗ trợ lao động trung
niên nhanh chóng thích ứng, tránh rơi vào “bẫy thất nghiệp dài hạn” và tái gia
nhập thị trường hiệu quả, các chính sách và ngành nghề cần định hướng tối ưu
hóa lợi thế về kinh nghiệm, vốn sống, kỹ năng giao tiếp; đồng thời giảm thiểu
áp lực về công nghệ phức tạp hoặc thao tác cường độ cao./.
[1] Nguồn trích dẫn: từ Báo cáo rà soát chính sách liên quan đến người
cao tuổi và công việc chăm sóc người cao tuổi. của TS. Hồ Xuân Dũng