Phòng Thông tin thị trường lao động
I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
9 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
1. Khái quát quy mô cung – cầu
lao động
Trong 9 tháng đầu năm 2026, Trung tâm ghi
nhận 174.341 người có nhu cầu tìm việc và 246.622 vị trí tuyển dụng. Điểm nghẽn
nổi bật của thị trường nằm ở sự lệch pha về ngành nghề, trình độ, kỹ năng, địa
bàn và điều kiện việc làm: doanh nghiệp có nhu cầu tuyển nhưng nguồn lao động
phù hợp chưa đáp ứng đồng đều giữa từng nhóm nghề.
Nhu cầu tuyển dụng tập trung ở các nhóm Vận
hành máy – Lao động kỹ thuật; May – Dệt – Da giày; Kinh doanh – Bán hàng –
Thương mại điện tử; Chế biến gỗ – Sản phẩm nội thất; Quản lý sản xuất – R&D
– Kiểm nghiệm. Năm nhóm đạt 158.054 vị trí, chiếm 64,09% tổng nhu cầu tuyển
dụng được ghi nhận.
Nhu cầu thị trường chủ yếu ở nhóm tuổi lao động chính, với 135.615 người trong độ tuổi 25–49, chiếm 77,79% tổng số người tìm việc. Tuy nhiên, xu hướng doanh nghiệp đang dịch chuyển sang không chú trọng về độ tuổi khi có 155.161 vị trí, chiếm 62,91% tổng nhu cầu và nhu cầu tuyển dụng không phân biệt giới tính chiếm 94,05%, với 231.944 vị trí. Cơ cấu này cho thấy doanh nghiệp ngày càng chú trọng kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng đáp ứng công việc của ứng viên hơn các điều kiện về tuổi và giới tính.
2. Hoạt động tư vấn, giới thiệu và kết nối việc
làm
Trong 9 tháng đầu năm 2026, Trung
tâm tổ chức 174 phiên giao dịch việc làm, đạt 116% kế hoạch năm; tổ chức 69
buổi tư vấn kỹ năng tìm việc và cập nhật chính sách pháp luật, đạt 121,05% kế
hoạch năm; 588.646 lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm; trong đó có
38.070 lượt được giới thiệu vào các vị trí tuyển dụng cụ thể và 12.522 người
nhận việc. Tỷ lệ người nhận việc trên số lượt được giới thiệu đạt 32,89%, cao
hơn mức 31,76% của 6 tháng đầu năm. Hoạt động trên được triển khai đồng bộ tại các
trụ sở, chi nhánh, điểm tiếp nhận và phối hợp với các đơn vị liên quan nhằm mở
rộng khả năng tiếp cận thông tin việc làm của người lao động và nhu cầu tuyển
dụng của doanh nghiệp.
Ba chỉ tiêu về
việc làm phản ánh các cấp độ khác nhau của hoạt động
dịch vụ việc làm, tổng
số 588.646 lượt người được tư vấn, thể
hiện phạm vi tư vấn rộng, bao gồm tư vấn thông tin tuyển dụng, chính sách, định
hướng nghề nghiệp, tư vấn kỹ năng và
hỗ trợ tìm việc. Qua quá trình xác định nhu cầu, lựa chọn công việc và sàng lọc
mức độ phù hợp, 38.070 lượt được giới thiệu vào vị trí tuyển dụng cụ thể. Khoảng
cách giữa các chỉ tiêu chủ yếu phát sinh trong quá trình lựa chọn vị trí, tuyển
chọn của doanh nghiệp và quyết định nhận việc của người lao động, trong đó tiền
lương, địa điểm, thời gian và điều kiện làm việc tác động trực tiếp đến kết
quả.
II. CUNG LAO ĐỘNG 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
1. Cung lao động theo nhóm ngành nghề
Một số nhóm ngành nghề có nhu cầu tìm việc
nhiều như: Vận hành máy – Lao động kỹ thuật đứng đầu với 46.467 người, chiếm
26,65% tổng nguồn cung; Kinh doanh – Bán hàng – Thương mại điện tử đứng thứ hai
với 20.964 người, chiếm 12,02%; May – Dệt – Da giày có 14.400 người, chiếm
8,26%; Nhân sự – Hành chính – Pháp chế – Văn phòng có 12.766 người, chiếm
7,32%; Chế biến gỗ – Sản phẩm nội thất có 10.920 người, chiếm 6,26%. Năm nhóm này
có quy mô nguồn cung lớn nhất đạt 105.517 người, chiếm 60,52% tổng nguồn cung.
Bên cạnh đó, Quản lý sản xuất – R&D –
Kiểm nghiệm ghi nhận 9.709 người, chiếm 5,57%; Kế toán – Kiểm toán – Thuế 7.251
người, chiếm 4,16%; Dịch vụ – Nhà hàng – Khách sạn – Du lịch 6.284 người, chiếm
3,60%; Marketing – Truyền thông – Quảng cáo 5.834 người, chiếm 3,35%. Cơ cấu
nguồn cung cho thấy lực lượng tìm việc tập trung đồng thời ở nhóm sản xuất – kỹ
thuật và nhóm kinh doanh – nghiệp vụ – văn phòng.
2. Cung lao động theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật
Nhóm chưa qua đào tạo chuyên môn
kỹ thuật có 79.567 người, chiếm 45,64% nguồn cung. Lao động trình độ đại học
đứng thứ hai với 37.686 người, chiếm 21,62%; công nhân kỹ thuật không bằng có
20.380 người, chiếm 11,69%; cao đẳng 12.650 người, chiếm 7,26%; trung cấp
12.622 người, chiếm 7,24%; chứng chỉ nghề dưới 3 tháng 11.018 người, chiếm
6,32%.
Cơ cấu nguồn cung 9 tháng đầu năm
2026 có sự dịch chuyển tăng nhẹ tỷ trọng lao động đã qua đào tạo, đặc biệt ở
nhóm đại học cho thấy giai đoạn này lực lượng lao động đã qua đào tạo có sự
biến động, trong đó có một phần tỷ lệ sinh viên mới tốt nghiệp gia nhập thị
trường.
Tuy nhiên, bằng cấp không quyết
định toàn bộ khả năng tìm việc, thực tế kết nối cho thấy doanh nghiệp ngày càng
quan tâm đến khả năng làm việc, kinh nghiệm, kỹ năng nghề và khả năng ứng dụng
kiến thức vào công việc. Người có trình độ chuyên môn nhưng thiếu kỹ năng thực
hành, kỹ năng ứng tuyển hoặc kinh nghiệm vẫn gặp khó khăn khi cạnh tranh với
những ứng viên có khả năng đáp ứng công việc ngay.
3. Cung lao động theo độ tuổi và
giới tính
Nguồn cung tập trung chủ yếu ở
nhóm 25–49 tuổi với 135.615 người, chiếm 77,79% tổng nguồn cung; cụ thể nhóm
25–35 tuổi có 72.585 người, chiếm 41,63%; nhóm 36–49 tuổi có 63.030 người,
chiếm 36,15%. Đây là lực lượng đang ở giai đoạn làm việc ổn
định, đã tích lũy kinh nghiệm và cũng là nhóm tuổi được doanh nghiệp tuyển dụng
nhiều.
Nhóm 18–24 tuổi có 20.571 người, chiếm 11,80%, đây là nhóm có lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ, khả năng thích nghi và thời gian phát triển nghề nghiệp, nhưng thường cần bổ sung kinh nghiệm thực tế, kỹ năng nghề và kỹ năng làm việc. Nhóm từ 50 tuổi trở lên có 18.155 người, chiếm 10,41%; khả năng tìm việc của nhóm này tập trung nhiều hơn ở những vị trí phù hợp với kinh nghiệm, sức khỏe, thời gian và điều kiện làm việc.
Lao động nữ có 94.301 người, chiếm 54,09%;
lao động nam có 80.040 người, chiếm 45,91%. Cơ cấu giới tính tương đối cân bằng,
trong thực tế tìm việc, sự khác biệt giữa nam và nữ chủ yếu thể hiện ở lựa chọn
ngành nghề, môi trường làm việc, yêu cầu thể lực, thời gian làm việc và mức độ
di chuyển của từng vị trí.