Phòng Thông Tin Thị Trường Lao Động
I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
1. Tình hình hoạt động tư vấn,
giới thiệu việc làm
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Trung
tâm Dịch vụ việc làm Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai hoạt động tư
vấn, giới thiệu việc làm trực tiếp và trực tuyến; đồng thời tăng cường kết nối
việc làm thông qua các sàn giao dịch việc làm, ngày hội việc làm, kênh thông
tin tuyển dụng và các nền tảng truyền thông của Trung tâm.
Kết quả ghi nhận 298.869 lượt
người được tư vấn, giới thiệu việc làm. Trong đó, 24.109 lượt người được giới
thiệu việc làm; 7.656 người lao động nhận việc, tương ứng khoảng 31,76% trên
tổng số lượt người được giới thiệu việc làm. Kết quả này cho thấy hoạt động tư
vấn, giới thiệu việc làm tiếp tục là kênh hỗ trợ quan trọng, giúp người lao
động tiếp cận cơ hội việc làm và hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực phù
hợp.
Tính riêng quý 2/2026, hoạt động
tư vấn, giới thiệu việc làm ghi nhận 199.164 lượt người, tăng 99.459 lượt,
tương ứng tăng khoảng 99,75% so với quý đầu năm. Số lượt người được giới thiệu
việc làm đạt 11.163 lượt; số người nhận việc đạt 3.437 người. Diễn biến này cho
thấy phạm vi tiếp cận tư vấn người lao động trong quý 2 được mở rộng rõ rệt;
đồng thời đặt ra yêu cầu năng cao hiệu quả chuyển đổi từ tư vấn, giới thiệu
sang nhận việc.
Việc duy trì tư vấn trực tiếp, kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông số, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận thông tin thị trường lao động. Người lao động có thêm căn cứ lựa chọn việc làm phù hợp; doanh nghiệp có thêm kênh tiếp cận nguồn nhân lực trong bối cảnh nhu cầu tuyển dụng tiếp tục duy trì ở quy mô lớn.
2. Khái quát quy mô cung – cầu
lao động
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nguồn
cung lao động ghi nhận 112.060 người, trong khi nhu cầu tuyển dụng của doanh
nghiệp ghi nhận 165.949 vị trí. Nhu cầu tuyển dụng cao hơn nguồn cung lao động
53.889 vị trí. Tương quan này cho thấy cầu lao động tiếp tục duy trì ở mức cao,
nhất là ở các nhóm việc làm phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất, vận hành,
kinh doanh và dịch vụ.
Tính riêng quý 2/2026, nguồn cung
lao động ghi nhận 59.419 người, tăng 6.778 người so với quý đầu năm, tương ứng
tăng khoảng 12,88%. Nhu cầu tuyển dụng ghi nhận 83.187 vị trí, tăng 425 vị trí,
tương ứng tăng khoảng 0,51%. Như vậy, cả cung và cầu lao động đều tăng trong
quý 2; trong đó, nguồn cung tăng nhanh hơn về tỷ lệ, góp phần thu hẹp một phần
khoảng cách giữa người lao động tìm việc và nhu cầu tuyển dụng.
Xét về cơ cấu chung, nhu cầu
tuyển dụng tập trung nhiều ở các nhóm công việc có tính thực hành và khả năng
tham gia công việc nhanh, gồm lao động phổ thông và công việc giản đơn; vận hành
máy, sản xuất có đào tạo, tay nghề; kinh doanh – bán hàng; sản xuất, quản lý
sản xuất, R&D, kiểm nghiệm. Đây là các nhóm việc làm gắn trực tiếp với hoạt
động sản xuất, phân phối, bán hàng, dịch vụ và vận hành doanh nghiệp.
Ở phía nguồn cung, người lao động có nhu cầu tìm việc tập trung ở các nhóm lao động phổ thông, sản xuất – vận hành, kinh doanh – bán hàng; đồng thời ghi nhận tỷ trọng đáng chú ý ở nhóm hành chính – văn phòng, marketing – truyền thông và lao động trình độ đại học. Cơ cấu này cho thấy thị trường không chỉ đặt ra yêu cầu về số lượng lao động, mà còn đòi hỏi sự phù hợp về ngành nghề, trình độ, kỹ năng, địa bàn làm việc và điều kiện tuyển dụng.
3. Nhận định khái quát về diễn biến thị trường lao động trong kỳ
Thị trường lao động 6 tháng đầu
năm 2026 ghi nhận nhu cầu tuyển dụng cao hơn nguồn cung lao động. Quy mô cầu
lao động lớn phản ánh nhu cầu nhân lực ổn định của doanh nghiệp, nhất là trong
các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, logistics, vận hành và bán hàng.
So với quý đầu năm, quý 2/2026
ghi nhận sự gia tăng ở cả cung và cầu lao động. Nguồn cung tăng nhanh hơn về tỷ
lệ, cho thấy nhu cầu tìm việc, chuyển việc hoặc tiếp cận thông tin việc làm của
người lao động tăng trong giai đoạn giữa năm. Trong khi đó, cầu lao động tăng
nhẹ nhưng tiếp tục giữ quy mô cao, cho thấy doanh nghiệp vẫn duy trì nhu cầu
tuyển dụng để đáp ứng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Cơ cấu thị trường trong kỳ cho
thấy các nhóm việc làm trực tiếp vẫn giữ vai trò chủ đạo. Lao động phổ thông,
sản xuất – vận hành, kinh doanh – bán hàng và lao động kỹ thuật thực hành là
những nhóm có nhu cầu tuyển dụng lớn. Ở chiều nguồn cung, lực lượng lao động có
sự phân bố đa dạng hơn, bao gồm lao động phổ thông, lao động có tay nghề, lao
động trình độ cao đẳng, đại học và nhóm lao động thuộc các lĩnh vực văn phòng,
dịch vụ, kinh doanh.
Từ bức tranh chung trên, trọng
tâm trong thời gian tới là nâng cao chất lượng kết nối cung – cầu, tăng hiệu
quả tư vấn theo nhóm ngành nghề, trình độ và địa bàn; đồng thời hỗ trợ người
lao động nâng cao kỹ năng, điều chỉnh định hướng tìm việc và đáp ứng tốt hơn
yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
II. CUNG LAO ĐỘNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM
2026
1. Cung lao động theo nhóm ngành
nghề
Theo nhóm ngành nghề, nguồn cung
lao động tập trung nhiều ở lao động phổ thông, sản xuất – vận hành, kinh doanh
– bán hàng và một số nhóm văn phòng, dịch vụ.
Nhóm lao động phổ thông và công
việc giản đơn có 37.842 người, chiếm 33,77% tổng nguồn cung. Đây là nhóm chiếm
tỷ trọng cao nhất, phù hợp với đặc điểm của nhiều vị trí trong sản xuất, kho
vận, bán lẻ, dịch vụ và các công việc hỗ trợ vận hành. Quy mô lớn của nhóm này
cho thấy nhu cầu tìm việc vẫn tập trung nhiều ở các công việc có khả năng tiếp
cận nhanh, yêu cầu đầu vào linh hoạt.
Nhóm vận hành máy – sản xuất có
đào tạo, tay nghề đứng thứ hai với 16.340 người, chiếm 14,58%. Đây là lực lượng
gắn với hoạt động sản xuất, gia công, vận hành thiết bị, dây chuyền và các công
việc kỹ thuật thực hành. Nhóm này có vai trò quan trọng trong kết nối với doanh
nghiệp sản xuất, khu công nghiệp và các đơn vị có nhu cầu lao động tay nghề.
Nhóm kinh doanh – bán hàng ghi
nhận 8.468 người, chiếm 7,56%. Đây là nhóm có khả năng tham gia vào nhiều vị
trí như bán hàng, tư vấn, chăm sóc khách hàng, phát triển thị trường và phân
phối sản phẩm, dịch vụ.
Một số nhóm ngành khác cũng có
quy mô đáng chú ý: nhân sự – hành chính – pháp chế – văn phòng có 8.203 người,
chiếm 7,32%; sản xuất – quản lý sản xuất – R&D – kiểm nghiệm có 5.882
người, chiếm 5,25%; marketing – truyền thông – quảng cáo có 5.484 người, chiếm
4,89%; bảo trì – điện – điện tử – kỹ thuật nhà máy có 4.741 người, chiếm 4,23%;
dịch vụ – nhà hàng – du lịch – bán lẻ có 4.385 người, chiếm 3,91%.
Nhìn chung, nguồn cung lao động phân bố ở hai nhóm chính: lao động trực tiếp trong sản xuất, vận hành, phổ thông và lao động trong các lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ, văn phòng. Đây là cơ sở để đánh giá mức độ phù hợp giữa người lao động tìm việc và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
2. Cung lao động theo địa bàn
Xét theo địa bàn, nguồn cung lao
động ghi nhận sự tập trung tại một số phường, xã có số lượng người lao động
đăng ký tìm việc tương đối cao. Các địa bàn này phản ánh những khu vực có mật
độ dân cư, lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh đáng chú ý trong phạm vi
dữ liệu tổng hợp của Trung tâm.
Trong kỳ, Phường Dĩ An là địa bàn
ghi nhận số lượng người lao động có nhu cầu tìm việc cao nhất với 3.751 người,
chiếm 3,35% tổng nguồn cung. Tiếp theo là Phường Sài Gòn với 3.648 người, chiếm
3,26%; Xã Bình Chánh với 3.614 người, chiếm 3,23%; Phường Phú Mỹ với 3.115
người, chiếm 2,78%; Phường Bình Hòa với 3.068 người, chiếm 2,74%.
Một số địa bàn khác cũng ghi nhận
nguồn cung lao động tương đối cao như Phường Thuận An với 2.885 người, chiếm
2,57%; Phường Bình Dương với 2.859 người, chiếm 2,55%; Phường Thới Hòa với 2.615
người, chiếm 2,33%; Phường An Khánh với 2.343 người, chiếm 2,09%; Phường Thuận
Giao với 2.189 người, chiếm 1,95%.
Cơ cấu trên cho thấy nguồn cung lao động hiện diện ở cả khu vực đô thị trung tâm, khu vực công nghiệp phía Bắc/Đông Bắc và khu vực ven biển, cảng biển, logistics phía Đông Nam Thành phố. Trong đó, các địa bàn như Dĩ An, Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương, Thới Hòa và Thuận Giao gắn nhiều với khu vực công nghiệp, sản xuất và vận hành; Phường Sài Gòn và Phường An Khánh gắn với khu vực đô thị, thương mại, dịch vụ; trong khi Phường Phú Mỹ thể hiện sự hiện diện của khu vực công nghiệp, cảng biển và logistics. Việc nhận diện các địa bàn có nguồn cung lớn là cơ sở để tổ chức hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm sát hơn với từng khu vực. Hoạt động kết nối cần gắn với đặc điểm ngành nghề, điều kiện di chuyển, địa bàn làm việc và khả năng đáp ứng của người lao động.
3. Cung lao động theo độ tuổi
Cơ cấu độ tuổi cho thấy nguồn
cung tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi lao động chính. Nhóm 25–35 tuổi có 45.374 người,
chiếm 40,49%; nhóm 36–49 tuổi có 40.940 người, chiếm 36,53%. Hai nhóm này chiếm
77,02% tổng nguồn cung lao động.
Tỷ trọng lớn của nhóm 25–49 tuổi
cho thấy lực lượng tìm việc trong kỳ chủ yếu là người đang ở độ tuổi làm việc
ổn định, có kinh nghiệm và khả năng tham gia ngay vào thị trường lao động. Đây
cũng là nhóm thường có nhu cầu chuyển đổi việc làm để cải thiện thu nhập, điều
kiện lao động hoặc môi trường làm việc.
Nhóm 18–24 tuổi có 14.643 người,
chiếm 13,07%. Đây là lực lượng mới tham gia thị trường lao động hoặc đang trong
giai đoạn tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhóm này cần được hỗ trợ về định
hướng nghề nghiệp, kỹ năng ứng tuyển và lựa chọn vị trí phù hợp.
Nhóm từ 50 tuổi trở lên có 11.084
người, chiếm 9,89%. Đây là nhóm cần được tư vấn theo hướng phù hợp với sức
khỏe, kinh nghiệm, điều kiện làm việc và tính chất công việc. Nhóm dưới 18 tuổi
có 19 người, chiếm 0,02%, tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn cung.
Cơ cấu tuổi trên cho thấy hoạt
động tư vấn việc làm cần tập trung vào ba hướng: định hướng nghề nghiệp cho lao
động trẻ, hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho nhóm 25–49 tuổi và tư vấn vị trí phù
hợp cho lao động lớn tuổi.
4. Cung lao động theo giới tính
Lao động nữ có 59.397 người,
chiếm 53,00%; lao động nam có 52.663 người, chiếm 47,00%. Sự chênh lệch không
lớn giữa hai nhóm cho thấy khoảng cách phân hóa công việc theo giới tính đang
có xu hướng thu hẹp, khi cả nam và nữ đều tham gia ngày càng rộng hơn vào nhiều
nhóm ngành nghề khác nhau.
Lao động nữ không chỉ tập trung ở các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, hành chính – văn phòng, chăm sóc khách hàng, bán lẻ mà còn tham gia vào một số vị trí sản xuất, vận hành và hỗ trợ kỹ thuật. Lao động nam tiếp tục hiện diện nhiều ở các nhóm sản xuất, vận hành máy, kỹ thuật, bảo trì, cơ khí, vận tải, nhưng cũng mở rộng sang các vị trí kinh doanh, dịch vụ và hỗ trợ khách hàng. Cơ cấu này tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kết nối việc làm theo hướng ưu tiên kỹ năng, kinh nghiệm và mức độ phù hợp với vị trí tuyển dụng.
5. Cung lao động theo trình độ
Theo trình độ chuyên môn kỹ
thuật, nhóm không có trình độ chuyên môn kỹ thuật có 56.879 người, chiếm 50,76%
tổng nguồn cung. Đây là nhóm lớn nhất, phản ánh đặc điểm nguồn cung còn tập
trung nhiều ở lao động phổ thông, lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng
nhận chuyên môn kỹ thuật.
Nhóm trình độ đại học có 19.190
người, chiếm 17,12%, đứng thứ hai trong cơ cấu nguồn cung. Tỷ trọng này cho
thấy nhu cầu tìm việc, chuyển việc hoặc tái gia nhập thị trường lao động không
chỉ xuất hiện ở lao động phổ thông mà còn ở nhóm lao động đã qua đào tạo trình
độ cao.
Nhóm công nhân kỹ thuật không
bằng có 12.049 người, chiếm 10,75%; nhóm chứng chỉ nghề dưới 3 tháng có 9.740
người, chiếm 8,69%; nhóm cao đẳng có 7.564 người, chiếm 6,75%; nhóm trung cấp
có 6.222 người, chiếm 5,55%. Đây là lực lượng có thể tham gia vào các vị trí kỹ
thuật, sản xuất, vận hành, dịch vụ chuyên môn hoặc công việc yêu cầu kỹ năng
thực hành.
Các nhóm còn lại chiếm tỷ trọng
nhỏ, gồm chứng chỉ nghề 3–12 tháng với 235 người, chiếm 0,21%; thạc sĩ 178 người,
chiếm 0,16%; tiến sĩ 3 người, chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Nhìn chung, cơ cấu trình độ cho
thấy nguồn cung lao động có sự phân hóa rõ giữa lao động chưa có trình độ
chuyên môn kỹ thuật và lao động đã qua đào tạo. Điều này đòi hỏi hoạt động tư
vấn phải bám sát trình độ, kỹ năng và khả năng đáp ứng công việc của từng nhóm
lao động, qua đó nâng cao hiệu quả kết nối với nhu cầu tuyển dụng của doanh
nghiệp.
III. CẦU LAO ĐỘNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM
2026
1. Cầu lao động theo nhóm ngành
nghề
Nhu cầu tuyển dụng vẫn tập trung
vào các nhóm lao động phổ thông, sản xuất – vận hành, kinh doanh – bán hàng và
các vị trí hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nhóm lao động phổ thông và công
việc giản đơn có nhu cầu cao nhất với 48.605 vị trí, chiếm 29,29% tổng nhu cầu
tuyển dụng. Đây là nhóm việc làm phổ biến trong sản xuất, kho vận, bán lẻ, dịch
vụ và các công việc hỗ trợ vận hành. Quy mô lớn của nhóm này cho thấy lao động
phổ thông tiếp tục là nhóm có vai trò quan trọng trong hoạt động kết nối cung –
cầu.
Nhóm vận hành máy – sản xuất có
đào tạo, tay nghề đứng thứ hai với 29.707 vị trí, chiếm 17,90%. Đây là nhóm gắn
trực tiếp với hoạt động sản xuất, gia công, chế biến, vận hành thiết bị và dây
chuyền. Nhu cầu cao ở nhóm này phản ánh vai trò của công nhân kỹ thuật, lao
động có tay nghề và lao động có khả năng làm việc trong môi trường sản xuất.
Nhóm kinh doanh – bán hàng ghi
nhận 21.341 vị trí, chiếm 12,86%. Nhóm này gắn với hoạt động thương mại, phân
phối, chăm sóc khách hàng, phát triển thị trường và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ.
Đây là nhóm có khả năng hấp thụ lao động ở nhiều trình độ, nhất là người lao
động có kỹ năng giao tiếp, khả năng thích ứng và kinh nghiệm bán hàng.
Bên cạnh ba nhóm chủ đạo, nhóm
sản xuất – quản lý sản xuất – R&D – kiểm nghiệm có 9.705 vị trí, chiếm
5,85%; tài chính – kinh tế – ngân hàng – chứng khoán – bảo hiểm có 5.631 vị
trí, chiếm 3,39%; nhân sự – hành chính – pháp chế – văn phòng có 5.057 vị trí,
chiếm 3,05%; dịch vụ – nhà hàng – du lịch – bán lẻ có 4.489 vị trí, chiếm
2,71%; kế toán – kiểm toán – thuế có 4.322 vị trí, chiếm 2,60%; bảo trì – điện
– điện tử – kỹ thuật nhà máy có 4.233 vị trí, chiếm 2,55%.
Nhìn chung, cơ cấu cầu lao động theo ngành nghề cho thấy nhu cầu tuyển dụng trong 6 tháng đầu năm tập trung vào các nhóm việc làm trực tiếp phục vụ sản xuất, vận hành, kinh doanh và dịch vụ. Đây là các nhóm cần được ưu tiên trong hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và kết nối doanh nghiệp với người lao động.
2. Cầu lao động theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật
Theo trình độ chuyên môn kỹ
thuật, nhóm không có trình độ chuyên môn kỹ thuật ghi nhận 85.881 vị trí, chiếm
51,75% tổng nhu cầu tuyển dụng. Tỷ trọng này phản ánh nhu cầu tuyển dụng lớn ở
các vị trí cần bổ sung nhân lực nhanh để duy trì hoạt động sản xuất, vận hành
và dịch vụ. Trong thực tế, ở một số vị trí khó tuyển hoặc cần lao động gấp,
doanh nghiệp có xu hướng mở rộng điều kiện đầu vào, tuyển lao động chưa có
chuyên môn kỹ thuật để đào tạo, hướng dẫn trực tiếp trong quá trình làm
việc.
Tuy nhiên, yêu cầu đầu vào của
nhóm lao động này không đồng nhất giữa các ngành nghề. Một số lĩnh vực sử dụng
nhiều lao động thủ công như gỗ, may mặc, giày da có thể tiếp nhận lao động có
trình độ học vấn thấp hơn. Trong khi đó, các vị trí liên quan đến vận hành máy
móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất thường vẫn cần người lao động có nền tảng
học vấn phổ thông, khả năng tiếp thu quy trình và tuân thủ kỹ thuật an toàn lao
động. Do đó, nhu cầu tuyển dụng ở nhóm không có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cần được hiểu theo hướng doanh nghiệp mở rộng nguồn tuyển và tăng cường đào tạo
tại chỗ, không phải giảm yêu cầu đối với chất lượng lao động.
Nhóm công nhân kỹ thuật không
bằng cấp đứng thứ hai với 43.271 vị trí, chiếm 26,07%. Nhu cầu cao ở nhóm này
cho thấy doanh nghiệp chú trọng lực lượng lao động có kỹ năng thực hành, kinh
nghiệm thao tác, khả năng vận hành máy móc, thiết bị hoặc đảm nhiệm công việc
kỹ thuật tại nhà máy, xưởng sản xuất.
Nhóm cao đẳng ghi nhận 17.061 vị
trí, chiếm 10,28%; trung cấp có 9.609 vị trí, chiếm 5,79%; đại học có 9.205 vị
trí, chiếm 5,55%. Các nhóm này phục vụ cho các vị trí kỹ thuật, nghiệp vụ, quản
lý sản xuất, kế toán, hành chính, tài chính, dịch vụ chuyên môn và một số công
việc yêu cầu kiến thức chuyên ngành.
Ở các nhóm còn lại, chứng chỉ
nghề dưới 3 tháng có 895 vị trí, chiếm 0,54%; chứng chỉ nghề 3–12 tháng có 23
vị trí, chiếm 0,01%; thạc sĩ có 4 vị trí; tiến sĩ không ghi nhận nhu cầu tuyển
dụng.
Cơ cấu trình độ cho thấy cầu lao động nghiêng nhiều về lao động phổ thông, công nhân kỹ thuật thực hành và lao động có khả năng đáp ứng công việc trực tiếp. Vì vậy, hoạt động kết nối việc làm cần chú trọng kỹ năng nghề, tác phong lao động, khả năng thích ứng và mức độ phù hợp giữa trình độ của người lao động với yêu cầu vị trí tuyển dụng.
3. Cầu lao động theo độ tuổi
Cơ cấu nhu cầu tuyển dụng theo độ
tuổi cho thấy phần lớn vị trí không đặt yêu cầu cụ thể về độ tuổi. Nhóm không
yêu cầu độ tuổi có 102.722 vị trí, chiếm 61,90% tổng nhu cầu tuyển dụng. Đây là
tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu cầu lao động theo độ tuổi.
Nhóm 18–35 tuổi ghi nhận 62.700
vị trí, chiếm 37,78%. Đây là nhóm tuổi phù hợp với nhiều vị trí cần sức khỏe,
khả năng thích ứng nhanh, tính linh hoạt và khả năng làm việc trong môi trường
có cường độ cao, nhất là trong sản xuất, vận hành, bán hàng, dịch vụ và kinh
doanh.
Nhóm 36–49 tuổi có 448 vị trí,
chiếm 0,27%; nhóm từ 50 tuổi trở lên có 79 vị trí, chiếm 0,05%. Với cơ cấu này,
hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm cần tiếp tục căn cứ vào đặc điểm từng vị
trí, điều kiện làm việc, kinh nghiệm, sức khỏe và khả năng đáp ứng thực tế của
người lao động.
Việc tỷ trọng lớn nhu cầu tuyển
dụng không đặt yêu cầu cụ thể về độ tuổi tạo điều kiện thuận lợi cho kết nối
việc làm ở nhiều nhóm lao động khác nhau. Trọng tâm kết nối cần đặt vào kỹ
năng, kinh nghiệm, sức khỏe, tác phong và mức độ phù hợp với công việc.
4. Cầu lao động theo giới tính
Theo giới tính, phần lớn nhu cầu
tuyển dụng không đặt yêu cầu cụ thể nam hoặc nữ. Nhóm tuyển dụng nam hoặc nữ
ghi nhận 154.007 vị trí, chiếm 92,81% tổng nhu cầu. Đây là tỷ trọng rất cao,
cho thấy nhiều vị trí tuyển dụng có thể tiếp nhận cả lao động nam và lao động
nữ khi đáp ứng yêu cầu công việc.
Nhu cầu tuyển dụng chỉ yêu cầu
lao động nam có 7.986 vị trí, chiếm 4,81%; nhu cầu chỉ yêu cầu lao động nữ có
3.956 vị trí, chiếm 2,38%. Các vị trí có yêu cầu riêng về giới tính thường gắn
với đặc thù công việc, điều kiện lao động, cường độ làm việc hoặc yêu cầu phục
vụ khách hàng.
Trong khi đó, nguồn cung lao động theo giới tính tương đối cân bằng, với lao động nữ chiếm 53,00% và lao động nam chiếm 47,00%. Cơ cấu này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giới thiệu việc làm, nhất là khi phần lớn nhu cầu tuyển dụng không giới hạn giới tính. Việc tư vấn cần tiếp tục đặt trọng tâm vào kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ, điều kiện làm việc và nguyện vọng của người lao động.
5. Một số địa bàn ghi nhận nhu
cầu tuyển dụng cao
Nhu cầu tuyển dụng trong 6 tháng
đầu năm 2026 ghi nhận tại nhiều phường, xã thuộc các khu vực kinh tế khác nhau
của Thành phố. Một số địa bàn có nhu cầu tương đối cao phản ánh sự phân bố cầu
lao động gắn với đặc điểm kinh tế của từng khu vực, gồm khu vực đô thị trung
tâm, khu vực công nghiệp phía Bắc/Đông Bắc và khu vực ven biển, cảng biển,
logistics phía Đông Nam Thành phố.
Tại khu vực đô thị trung tâm,
Phường Sài Gòn ghi nhận 7.028 vị trí tuyển dụng, chiếm 4,24% tổng nhu cầu;
Phường Tân Hưng có 3.641 vị trí, chiếm 2,19%; Phường Tân Bình có 3.212 vị trí,
chiếm 1,94%. Đây là các địa bàn gắn với hoạt động thương mại, dịch vụ, văn
phòng, tài chính, kinh doanh và các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp.
Tại khu vực công nghiệp phía
Bắc/Đông Bắc Thành phố, nhu cầu tuyển dụng thể hiện rõ ở các địa bàn có đặc
trưng sản xuất, công nghiệp và vận hành như Phường Bình Dương với 4.432 vị trí,
chiếm 2,67%; Phường Dĩ An với 3.925 vị trí, chiếm 2,37%; Phường Thuận Giao với
3.717 vị trí, chiếm 2,24%; Phường Thuận An với 3.613 vị trí, chiếm 2,18%;
Phường Bến Cát với 3.569 vị trí, chiếm 2,15%; Phường Tân Uyên với 3.293 vị trí,
chiếm 1,98%. Đây là khu vực có nhu cầu đáng chú ý đối với lao động phổ thông,
công nhân kỹ thuật, lao động sản xuất – vận hành và các vị trí phục vụ hoạt
động công nghiệp.
Đối với khu vực ven biển, cảng
biển và logistics phía Đông Nam Thành phố, Xã Xuyên Mộc ghi nhận 3.330 vị trí,
chiếm 2,01%; Phường Phú Mỹ có 2.963 vị trí, chiếm 1,79%. Các địa bàn này gắn
với đặc điểm kinh tế biển, công nghiệp, cảng biển, logistics, dịch vụ hậu cần
và các hoạt động liên quan đến chuỗi cung ứng.
Nhìn chung, phân bố nhu cầu tuyển
dụng theo địa bàn cho thấy cầu lao động không chỉ tập trung ở khu vực đô thị
trung tâm mà còn ghi nhận rõ tại các địa bàn công nghiệp và khu vực ven biển,
cảng biển, logistics. Đây là cơ sở để tổ chức hoạt động kết nối việc làm sát
hơn với đặc điểm kinh tế từng khu vực.
6. Một số vấn đề đặt ra từ cơ cấu
cầu lao động
Cơ cấu cầu lao động 6 tháng đầu
năm 2026 cho thấy doanh nghiệp tiếp tục tập trung tuyển dụng ở các nhóm việc
làm trực tiếp phục vụ sản xuất, vận hành, kinh doanh và dịch vụ. Trong đó, lao
động phổ thông, công nhân kỹ thuật, lao động sản xuất – vận hành và kinh doanh
– bán hàng là các nhóm có quy mô nhu cầu lớn.
Ở chiều kết nối, nguồn cung lao
động có sự phân bố đa dạng hơn về ngành nghề, trình độ và nhóm đối tượng. Một
số nhóm như nhân sự – hành chính – pháp chế – văn phòng và lao động trình độ
đại học có tỷ trọng nguồn cung cao hơn nhu cầu tuyển dụng tương ứng. Điều này
đặt ra yêu cầu tăng cường tư vấn định hướng việc làm, hỗ trợ người lao động bổ
sung kỹ năng thực hành, mở rộng lựa chọn vị trí và điều chỉnh kỳ vọng nghề
nghiệp phù hợp hơn.
Bên cạnh đó, nhu cầu lớn đối với
công nhân kỹ thuật không bằng, cao đẳng, trung cấp và lao động sản xuất – vận
hành cho thấy doanh nghiệp quan tâm nhiều đến khả năng làm việc thực tế. Hoạt
động tư vấn, giới thiệu việc làm vì vậy cần tiếp tục chú trọng kỹ năng nghề, kỹ
năng ứng tuyển, tác phong công nghiệp và khả năng thích ứng với điều kiện làm
việc cụ thể.
Ghi nhận bước đầu từ biểu mẫu thu
thập thông tin cung – cầu lao động của Trung tâm cũng cho thấy rào cản kết nối
việc làm không chỉ nằm ở số lượng vị trí tuyển dụng, mà còn ở mức độ sẵn sàng
đi làm, điều kiện di chuyển, kỳ vọng thu nhập và mức độ phù hợp giữa vị trí
tuyển dụng với nhu cầu của người lao động. Một bộ phận người lao động còn chưa
chủ động gửi hồ sơ, chưa tham gia phỏng vấn trong thời gian gần đây hoặc chưa
sẵn sàng đi làm ngay; trong khi đó, nhiều trường hợp ưu tiên công việc gần nơi
cư trú, ổn định và phù hợp với điều kiện cá nhân.
Những ghi nhận này cho thấy hoạt
động kết nối việc làm cần đi sâu hơn vào từng nhóm người lao động, không chỉ
dừng ở việc cung cấp thông tin tuyển dụng. Việc tư vấn cần gắn với địa bàn làm
việc, điều kiện đi lại, mức độ sẵn sàng nhận việc, kỹ năng hiện có và kỳ vọng
nghề nghiệp của người lao động. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả
chuyển đổi từ tư vấn, giới thiệu việc làm sang nhận việc thực tế.
Nhìn chung, phân tích cầu lao
động cho thấy trọng tâm không chỉ nằm ở quy mô nhu cầu tuyển dụng, mà còn ở mức
độ phù hợp giữa yêu cầu của doanh nghiệp với đặc điểm của nguồn cung lao động.
Đây là cơ sở để tiếp tục nâng cao chất lượng thông tin thị trường lao động, tăng
cường tư vấn theo nhóm đối tượng và đẩy mạnh kết nối cung – cầu trong 6 tháng
cuối năm 2026.
IV. DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 6
THÁNG CUỐI NĂM 2026
1. Xu hướng chung của thị trường
lao động
Trong 6 tháng cuối năm 2026, thị
trường lao động dự kiến tiếp tục duy trì nhu cầu tuyển dụng ổn định, gắn với
hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ, logistics, bán hàng và vận hành doanh
nghiệp. Cầu lao động vẫn tập trung vào các nhóm việc làm có khả năng hấp thụ
nhiều lao động, yêu cầu khả năng tham gia công việc nhanh và thích ứng tốt với
điều kiện làm việc thực tế.
Nguồn cung lao động dự kiến tiếp
tục được bổ sung từ nhóm người lao động có nhu cầu tìm việc mới, chuyển việc
hoặc quay lại thị trường lao động. Tuy nhiên, hiệu quả kết nối việc làm sẽ phụ
thuộc nhiều vào mức độ phù hợp giữa kỹ năng, kinh nghiệm, địa bàn làm việc,
điều kiện lao động và kỳ vọng nghề nghiệp của người lao động với yêu cầu tuyển
dụng của doanh nghiệp.
Trọng tâm của thị trường trong
thời gian tới không chỉ nằm ở quy mô cung – cầu, mà ở chất lượng kết nối. Việc
tư vấn, giới thiệu việc làm cần hướng đến kết nối đúng nhóm ngành, đúng vị trí,
đúng địa bàn và đúng mức độ sẵn sàng đi làm của người lao động.
2. Nhóm ngành nghề, trình độ và
kỹ năng cần chú ý
Các nhóm lao động phổ thông và
công việc giản đơn; vận hành máy – sản xuất có đào tạo, tay nghề; kinh doanh –
bán hàng dự kiến tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong nhu cầu tuyển dụng 6 tháng
cuối năm. Đây là các nhóm đã chiếm tỷ trọng lớn trong 6 tháng đầu năm và gắn
trực tiếp với hoạt động sản xuất, phân phối, bán hàng, dịch vụ và vận hành
doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các nhóm sản xuất –
quản lý sản xuất – R&D – kiểm nghiệm; tài chính – kinh tế – ngân hàng –
chứng khoán – bảo hiểm; dịch vụ – nhà hàng – du lịch – bán lẻ; kế toán – kiểm
toán – thuế; bảo trì – điện – điện tử – kỹ thuật nhà máy tiếp tục có nhu cầu
tuyển dụng ở mức phù hợp. Các nhóm này phục vụ trực tiếp hoặc hỗ trợ hoạt động
sản xuất, quản trị, dịch vụ, lưu thông hàng hóa và vận hành chuỗi cung ứng.
Về trình độ và kỹ năng, nhu cầu
tuyển dụng tiếp tục tập trung ở lao động phổ thông, công nhân kỹ thuật thực
hành và lao động có khả năng đáp ứng công việc trực tiếp. Kỹ năng thực hành,
tác phong lao động, khả năng tuân thủ quy trình, thích ứng với môi trường làm
việc và kinh nghiệm thực tế sẽ tiếp tục là những yếu tố quan trọng. Đối với
nhóm lao động có trình độ đại học, hành chính – văn phòng, marketing – truyền
thông và một số nhóm chuyên môn, cần chú trọng kỹ năng ứng dụng, kỹ năng giao
tiếp, xử lý công việc, sử dụng công nghệ và khả năng thích ứng với yêu cầu vị
trí.
3. Định hướng hoạt động của Trung
tâm
Trong 6 tháng cuối năm 2026,
Trung tâm tiếp tục tăng cường cập nhật, phân tích và cung cấp thông tin thị
trường lao động theo ngành nghề, trình độ, độ tuổi, giới tính và địa bàn. Việc
khai thác dữ liệu thường xuyên giúp nhận diện kịp thời các nhóm ngành có nhu
cầu tuyển dụng cao, nhóm lao động cần tư vấn chuyên sâu và địa bàn cần đẩy mạnh
hoạt động kết nối.
Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc
làm cần tập trung vào các nhóm ngành có nhu cầu tuyển dụng lớn, đồng thời nâng
cao chất lượng kết nối thay vì chỉ mở rộng quy mô tiếp cận. Đối với người lao
động, cần tăng cường tư vấn kỹ năng ứng tuyển, kỹ năng nghề, tác phong lao
động, khả năng thích ứng và lựa chọn vị trí phù hợp. Đối với doanh nghiệp,
Trung tâm tiếp tục thu thập nhu cầu tuyển dụng, cập nhật điều kiện làm việc,
yêu cầu kỹ năng và tiêu chí tuyển dụng để nâng cao hiệu quả giới thiệu việc
làm.
Bên cạnh đó, Trung tâm tiếp tục
hoàn thiện biểu mẫu thu thập thông tin cung – cầu lao động, chú trọng các nội
dung về mức độ sẵn sàng đi làm, nguyên nhân chưa nhận việc, điều kiện di
chuyển, kỳ vọng thu nhập, kỹ năng còn thiếu và yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp.
Nhóm thông tin này giúp nhận diện rõ hơn các điểm nghẽn trong kết nối việc làm,
nhất là các trường hợp có vị trí tuyển dụng nhưng người lao động chưa thấy phù
hợp, chưa sẵn sàng đi làm hoặc gặp trở ngại về khoảng cách di chuyển, thời gian
làm việc và điều kiện cá nhân.
Nhìn chung, thị trường lao động 6
tháng cuối năm 2026 dự kiến tiếp tục duy trì nhu cầu tuyển dụng ở nhiều nhóm
việc làm phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và vận hành. Trọng tâm trong
thời gian tới là nâng cao chất lượng kết nối cung – cầu, hỗ trợ người lao động
đáp ứng tốt hơn yêu cầu tuyển dụng và đồng hành với doanh nghiệp trong quá trình
tuyển dụng nguồn nhân lực phù hợp.
(Các phân
tích trong báo cáo được xây dựng trên cơ sở số liệu khảo sát, thống kê, thu thập
và tổng hợp của Trung tâm Dịch vụ việc làm TP.HCM (tại các Trụ sở, các Điểm tiếp
nhận)).
TRUNG TÂM DVVL TP.HCM